Bằng chứng kiểm toán và các cơ sở dẫn liệu ứng dụng giải đề thi môn kiểm toán 2023 đề chẵn

Việc thu thập đầy đủ và thích hợp các bằng chứng kiểm toán để đưa ra ý kiến kiểm toán là một trong nhưng nỗi dung quan trọng, trong quá trình đó thì kiểm toán viên cần kiểm tra đối chiếu các cơ sở dẫn liệu thích hợp với từng khoản mục kiểm toán, Vậy việc áp dụng ra sao cùng thương hiệu dichvukiemtoanbctc.com 15+ năm kinh nghiệm tìm hiểu chi tiết nhất các bạn nhé.

Bằng chứng kiểm toán và các cơ sở dẫn liệu ứng dụng giải đề thi môn kiểm toán 2023 đề chẵn

Bằng chứng kiểm toán và các cơ sở dẫn liệu ứng dụng giải đề thi môn kiểm toán 2023 đề chẵn

Các cơ sở dẫn liệu trong kiểm toán gồm những gì?

Cơ sở dẫn liệu là các khẳng định của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán một cách trực tiếp hoặc dưới hình thức khác về các khoản mục và thông tin trình bày trong báo cáo tài chính và được kiểm toán viên sử dụng để xem xét các loại sai sót có thể xảy ra.

>>> Chi tiết các cơ sở dẫn liệu của kiểm toán.

Nguyên tắc thận trọng

Nguyên tắc thận trọng (Conservatism Principle) là một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 01, nguyên tắc thận trọng được quy định như sau:

Nguyên tắc thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kếtoán trong các điều kiện không chắc chắn.

Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:

Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn. Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập. Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí.

Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí.

Có thể thấy rằng nguyên tắc thận trọng xuất phát từ yêu cầu về tính tin cậy của thông tin kế toán. Một hệ thống kế toán có độ thận trọng cao, sẽ đáng tin tưởng hơn hệ thống kế toán không có sự thận trọng.

>>> nội dung của nguyên tắc thận trọng xoay quanh việc trích lập các khoản dự phòng và ghi nhận giá trị của các khoản chi phí, doanh thu, tài sản, giá vốn, …

Trên thực tế, các doanh nghiệp có thể thực hiện nguyên tắc thận trọng theo yêu cầu của pháp luật hoặc do các ước tính kế toán của doanh nghiệp.

Hoài nghi nghề nghiệp của kiểm toán là gì?

Theo VSA 200, “Thái độ hoài nghi nghề nghiệp là thái độ luôn nghi vấn, cảnh giác đối với những tình huống cụ thể, có thể là dấu hiệu của sai sót, do nhầm lẫn hay do gian lận và đánh giá cẩn trọng đối với các bằng chứng kiểm toán”. Như vậy, hoài nghi nghề nghiệp, về cơ bản, là suy nghĩ của KTV tạo nên trạng thái nghi vấn, qua đó điều khiển hành vi của KTV trong việc áp dụng các thủ tục kiểm toán, thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán nhằm hình thành ý kiến kiểm toán.

Áp dụng thái độ hoài nghi nghề nghiệp vào công tác kiểm toán

Theo quy định chung từ VSA 200, KTV phải lập kế hoạch và thực hiện cuộc kiểm toán với thái độ hoài nghi nghề nghiệp, để nhận biết các trường hợp có thể dẫn đến báo cáo tài chính chứa đựng những sai sót trọng yếu. Hoài nghi nghề nghiệp là thái độ cảnh giác đối với các vấn đề như: Các bằng chứng kiểm toán có mâu thuẫn với nhau hay không; Có thông tin nào đáng ngờ làm ảnh hưởng đến độ tin cậy của các tài liệu và kết quả phỏng vấn đã được sử dụng làm bằng chứng kiểm toán hay không; Có dấu hiệu nào làm nảy sinh gian lận hay không; Các tình huống yêu cầu phải thực hiện thủ tục kiểm toán bổ sung ngoài những thủ tục mà chuẩn mực kiểm toán yêu cầu có được đặt ra hay không.

Mục đích mà các KTV cần duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt cuộc kiểm toán là, nhằm giảm thiểu các rủi ro khi bỏ qua các sự kiện và tình huống bất thường; Hoặc vội vàng rút ra kết luận chỉ từ việc quan sát; Hoặc sử dụng các giả định không phù hợp khi xác định nội dung, lịch trình, phạm vi của thủ tục kiểm toán và đánh giá kết quả các thủ tục đó.

KTV phải có thái độ hoài nghi nghề nghiệp để đánh giá một cách nghiêm túc đối với bằng chứng kiểm toán. Điều này bao gồm Sự nghi ngờ đối với các bằng chứng kiểm toán mâu thuẫn, trái ngược nhau, đồng thời đánh giá độ tin cậy của các tài liệu, kết quả phỏng vấn cũng như các thông tin khác do Ban Giám đốc và Ban Quản trị đơn vị được kiểm toán cung cấp. Thái độ hoài nghi nghề nghiệp cũng bao gồm sự xem xét về tính đầy đủ và thích hợp của các bằng chứng kiểm toán thu thập được trong từng hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ, trong trường hợp tồn tại rủi ro có gian lận nhưng lại chỉ có một tài liệu làm bằng chứng kiểm toán duy nhất cho một khoản mục trọng yếu trên báo cáo tài chính mà tài liệu này dễ bị gian lận, làm giả, thì KTV cần có thái độ hoài nghi về tính đầy đủ của bằng chứng này.

Hơn nữa, KTV có thể sử dụng kinh nghiệm và hiểu biết của mình trong quá khứ về sự trung thực và tính chính trực của Ban Giám đốc và Ban Quản trị đơn vị được kiểm toán. Tuy nhiên, việc tin tưởng vào sự trung thực và tính chính trực của ban lãnh đạo đơn vị được kiểm toán không nên tác động vào thái độ làm việc của KTV, làm giảm thái độ hoài nghi nghề nghiệp của KTV, hoặc cho phép KTV thỏa mãn với các bằng chứng kiểm toán chưa đủ thuyết phục để đạt được sự đảm bảo hợp lý.

Ngoài ra, thái độ hoài nghi nghề nghiệp còn rất cần thiết khi kiểm toán những lĩnh vực phức tạp, quan trọng hoặc đòi hỏi sự xét đoán cao, như:

– Kiểm toán các ước tính kế toán, ví dụ ước tính kế toán về giá trị hợp lý và thuyết minh thông tin liên quan;

– Xem xét hoạt động liên tục, ví dụ khi đánh giá kế hoạch của nhà quản lý về các hoạt động trong tương lai liên quan đến việc đánh giá hoạt động liên tục, cho dù các kế hoạch này có thể cải thiện tình hình hoặc khả thi thì vẫn phải nghi ngờ về khả năng hoạt động liên tục và có thể nêu trên báo cáo kiểm toán;

– Xem xét nghiệp vụ với các bên liên quan, ví dụ phải duy trì thái độ cảnh giác về những thông tin có thể chỉ ra sự khai báo chưa đầy đủ hoặc chưa đúng về nghiệp vụ với các bên liên quan;

– Xem xét những quy định và luật lệ, ví dụ phải cảnh giác khi thấy có sự không tuân thủ hoặc nghi ngờ không tuân thủ các quy định pháp luật làm ảnh hưởng trọng yếu đến thông tin cần kiểm tra;

Sử dụng chuyên gia, ví dụ nhà quản lý hoặc KTV có thể sử dụng chuyên gia để hỗ trợ trong một số lĩnh vực đặc biệt như kế toán công cụ tài chính. Khi đó, KTV phải phán xét trong việc đánh giá khả năng sử dụng kết quả của chuyên gia làm bằng chứng kiểm toán.

Như vậy, hoài nghi đúng chỗ, đúng thời điểm, sẽ giúp cho KTV thu thập được bằng chứng kiểm toán thuyết phục hơn để làm căn cứ cho ý kiến kiểm toán của mình.

>>> Xem thêm: Thue kiem toan doc lap o tinh Dong Nai 2025

Các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ hoài nghi nghề nghiệp

Theo các nghiên cứu trước đây, các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ hoài nghi nghề nghiệp gồm:

Các khuyến khích dành cho KTV (Brazel & cộng sự, 2015) (trích theo Joseph F. Brazel & Tammie Schaefer): Nhân tố này bao gồm việc đưa chính sách thưởng phạt rõ ràng đối với KTV, khen thưởng khi KTV phát huy tốt thái độ hoài nghi nghề nghiệp và phạt khi họ không thực hiện tốt thái độ hoài nghi nghề nghiệp làm ảnh hưởng đến chất lượng công việc. Ví dụ, khi có sự mâu thuẫn trong bằng chứng kiểm toán mà KTV vẫn không nghi ngờ để phát hiện ra sai sót hoặc gian lận, làm ảnh hưởng trọng yếu đến thông tin cần kiểm tra thì sẽ bị phạt.

Áp lực về trách nhiệm giải trình chất lượng kiểm toán và áp lực về thời gian thực hiện cuộc kiểm toán (Westermann & cộng sự, 2015) (trích theo Joseph F. Brazel & Tammie Schaefer): Nhân tố này cho thấy khi KTV chịu trách nhiệm giải trình về chất lượng kiểm toán sẽ làm tăng sự hoài nghi nghề nghiệp và ngược lại, khi KTV chịu áp lực về thời gian thực hiện cuộc kiểm toán và thời gian hoàn thành HSKT sẽ giảm sự hoài nghi nghề nghiệp.

Khối lượng công việc của KTV (Persellin & cộng sự, 2015) (trích theo Joseph F. Brazel & Tammie Schaefer): Một KTV đảm nhiệm khối lượng công việc khá lớn trong một khoảng thời gian hạn hẹp cũng sẽ ảnh hưởng đến thái độ hoài nghi nghề nghiệp của họ và từ đó ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán. Đặc biệt, đối với nghề kiểm toán, nhân lực thiếu sẽ là nguy cơ cao dẫn đến việc KTV không thực hiện hoài nghi nghề nghiệp đúng mực.

Ngoài ra, theo quan sát tại Việt Nam, những nhân tố sau cũng sẽ ảnh hưởng đến thái độ hoài nghi nghề nghiệp:

Quá trình đào tạo sinh viên của ngành kế toán, kiểm toán hiện nay của nhiều trường đại học hầu như chưa đề cập hoặc chưa chú trọng nhiều đến khái niệm hoài nghi nghề nghiệp”, trong khi đây là một yếu tố bắt buộc phải vận dụng của một KTV khi hành nghề. Do vậy, từ trong môi trường giáo dục đại học, những sinh viên học ngành kế toán, kiểm toán mà tương lai có thể trở thành những KTV, chưa được đào tạo sâu về nội dung này. Cho đến khi sinh viên tốt nghiệp và chính thức làm việc, họ mới bắt đầu tiếp xúc nhiều với công việc kiểm toán và tự hình thành dần thái độ hoài nghi nghề nghiệp. Bên cạnh đó, hàng năm Hội nghề nghiệp có tổ chức cập nhật kiến thức cho KTV, tuy nhiên những buổi cập nhật này cũng hiếm khi có những nội dung liên quan đến thái độ hoài nghi nghề nghiệp. Nhân tố này có thể gọi là Đào tạo KTV.

Mỗi KTV có thể có tính cách khác nhau, người cẩn thận hoặc đa nghi thì thường hay nghi ngờ, cảnh giác khi thực hiện tìm hiểu thông tin, thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán; người có kinh nghiệm kiểm toán lâu năm thì thông thường họ sẽ có thái độ hoài nghi nghề nghiệp tốt hơn những KTV mới vào nghề. Như vậy, tính cách hay kinh nghiệm của KTV cũng chi phối khá nhiều thái độ hoài nghi nghề nghiệp. Nhân tố này có thể gọi là Đặc điểm KTV.

Thời hạn kiểm toán cho một khách hàng càng dài có thể càng làm giảm thái độ hoài nghi nghề nghiệp, vì thời gian dài làm việc cùng nhau sẽ làm gia tăng sự thân thuộc vào ban lãnh đạo của doanh nghiêp được kiểm toán như khiến cho KTV trở nên chủ quan, do đã am hiểu các hoạt động của doanh nghiệp được kiểm toán. Thông thường, một công ty kiểm toán có thể ký hợp đồng kiểm toán cho một công ty khách hàng liên tục trong ba năm. Và trong thực tế, có nhiều công ty kiểm toán với quy mô nhỏ chỉ có một nhóm ít KTV nên nhóm này có thể liên tục thực hiện kiểm toán cho cùng một khách hàng trong nhiều năm, từ đó nhóm KTV này có hiểu biết nhiều về công ty khách hàng nên đôi khi ít quan tâm đến những dấu hiệu nghi ngờ có sai sót hoặc gian lận. Sự tác động của nhân tố này là không nhỏ, được gọi là Thời hạn kiểm toán.

Do tính chất cạnh tranh và nhiều yếu tố khác tác động, một số công ty kiểm toán (thường là những công ty kiểm toán nhỏ) đã ký những hợp đồng kiểm toán với giá phí rất thấp, nên ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của cuộc kiểm toán. Chính vì nhận giá thấp nên họ thực hiện công việc kiểm toán sơ sài và khi phát hành báo cáo kiểm toán hầu như là chấp nhận toàn bộ, không tuân thủ nghiêm ngặt theo quy trình và quy định và tất nhiên là không có thái độ hoài nghi đúng mực. Nhân tố này có thể gọi là Phí kiểm toán.

>>> Xem thêm: https://dichvukiemtoanbctc.com/cong-ty-kiem-toan-doc-lap-tai-ba-ria-vung-tau.html

Trình bày thái độ hoài nghi nghề nghiệp trên HSKT

Trình bày thái độ hoài nghi nghề nghiệp trên HSKT là một vấn đề phức tạp, không thể hiện rõ ràng vì thái độ hoài nghi nghề nghiệp chỉ là suy nghĩ, cảm nhận của KTV nên có trường hợp KTV trình bày, cũng có trường hợp không trình bày trên HSKT. Ví dụ, khi có vấn đề cần trao đổi, đánh giá hoặc nghi ngờ về thông tin, bằng chứng kiểm toán, các KTV thường thảo luận với nhau hoặc trao đổi với khách hàng, nhà quản lý để đưa ra giải pháp. Biên bản các buổi thảo luận này sẽ là bằng chứng thể hiện KTV đã có thái độ hoài nghi nghề nghiệp. Tuy nhiên, có nhiều tình huống, đó chỉ là cuộc trao đổi ngắn nên KTV không làm biên bản, không lưu hồ sơ. Vì vậy, đây là vấn đề cần quan tâm nói chung của công việc kiểm toán, vì lưu lại những biên bản này trong HSKT chứng tỏ KTV đã có trình bày thái độ hoài nghi nghề nghiệp trên HSKT. Đây không chỉ là bằng chứng nếu xảy ra rủi ro kiểm toán, mà còn là những tài liệu tham khảo để các KTV thực hiện các cuộc kiểm toán lần sau có cơ sở đánh giá, học tập và rút kinh nghiệm.

Các giải pháp duy trì và phát huy thái độ hoài nghi nghề nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Thái độ hoài nghi nghề nghiệp bị ảnh hưởng bởi đặc điểm hành vi cá nhân, tức là thái độ và các giá trị đạo đức cũng như kiến thức của các KTV. Thái độ này bị chi phối chủ yếu bởi giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm thực tế cũng như áp lực công việc. Vì vậy, để duy trì và phát huy tốt thái độ hoài nghi nghề nghiệp cần lưu ý:

Trong công ty kiểm toán, hoài nghi nghề nghiệp chịu ảnh hưởng bởi những nhà lãnh đạo và môi trường hoạt động của công ty. Vì thế, chuẩn mực kiểm toán có thể yêu cầu và đưa ra những hướng dẫn cụ thể hơn, để giúp công ty kiểm toán xây dựng môi trường làm việc cũng như hoạt động gắn kết giữa nhân viên kiểm toán và những nhà lãnh đạo, nhằm trau dồi thái độ hoài nghi nghề nghiệp;

KTV có xu hướng làm việc tốt hơn khi họ có những quyền lợi tốt đi kèm, vì thế công ty kiểm toán nên thiết lập những chính sách và thủ tục nhằm đánh giá hiệu quả công việc của KTV, đặc biệt chú trọng đến khả năng áp dụng thái độ hoài nghi nghề nghiệp để có chế độ thưởng, phạt hay tăng, giảm lương;

Mặc dù, Nghị định 17/2012/NĐ – CP, hướng dẫn việc thi hành Luật Kiểm toán Độc lập cũng có quy định tại Mục 5, Điều 16 về báo cáo kiểm toán, KTV hành nghề không được ký báo cáo kiểm toán cho một đơn vị kiểm toán quá ba (03) năm liên tục. Tuy nhiên, thiết nghĩ thời hạn ba năm cũng khá dài, công ty kiểm toán nên luân chuyển thường xuyên hơn KTV phụ trách các hợp đồng kiểm toán để KTV luôn thực hiện kiểm toán ở công ty khách hàng mới. Từ đó, khiến họ luôn tìm hiểu kỹ và luôn đặt nghi vấn, khi xem xét một tình huống hay một sự kiện bất thường;

Hội nghề nghiệp hoặc công ty kiểm toán nên thường xuyên có những buổi tọa đàm hay tập huấn liên quan đến thái độ hoài nghi nghề nghiệp, để các KTV có cơ hội chia sẻ cũng như học tập kinh nghiệm thực tế;

Hội nghề nghiệp cũng cần tăng cường kiểm soát chất lượng kiểm toán. Hiện nay, hàng năm, Hội nghề nghiệp chỉ kiểm tra HSKT của một số công ty kiểm toán. Vì vậy, có những công ty kiểm toán vẫn trong tư tưởng chưa bị kiểm tra nên chưa có áp lực tốt cho KTV, để họ thực hiện thái độ hoài nghi nghề nghiệp tốt hơn và trình bày HSKT đầy đủ hơn.

Thời gian thực hiện cuộc kiểm toán và khối lượng công việc sẽ là áp lực giảm sự hoài nghi nghề nghiệp. Do đó, để giảm áp lực về thời gian kiểm toán, đặc biệt là cuối năm tài chính, thì KTV có thể tiến hành kiểm toán sơ bộ trong năm.

Kết luận số 1 về hoài nghi kiểm toán

Hoài nghi nghề nghiệp đặt ra nhiều thách thức cho KTV, mặc dù bản chất nó vốn đã hiện hữu trong tất cả các hoạt động kiểm toán nhưng không được thể hiện rõ ràng trên HSKT, nên khó chứng minh là KTV có hoài nghi nghề nghiệp trong suốt quá trình kiểm toán hay không. Hiểu được sự hoài nghi nghề nghiệp trong kiểm toán là không dễ, vận dụng đúng đắn hoài nghi nghề nghiệp càng khó khăn hơn và quá trình vận dụng và phát huy thái độ hoài nghi nghề nghiệp cần một thời gian dài. Việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến thái độ hoài nghi nghề nghiệp là cần thiết, nhằm đóng góp vào quá trình nâng cao chất lượng kiểm toán hiện nay./.

Trích nguồn uy tín: http://vaa.net.vn/thai-do-hoai-nghi-nghe-nghiep-cua-kiem-toan-vien/

Câu 1 (2,0 điểm) – trích và giải đề, Đề thi môn kiểm toán và dịch vụ đảm bảo năm 2023 chứng chỉ CPA đề chẵn

Giả sử bạn phụ trách cuộc kiểm toán báo cáo tài chính năm tài chính kết thúc vào 31/12/2022 của Công ty TNHH Bình Minh. Đây là một công ty sản xuất có qui mô lớn. Vào ngày 25/2/2023, giấy làm việc do trợ lý kiểm toán Bình thực hiện cung cấp một số thông tin như sau:

  1. Bình đã chứng kiến cuộc kiểm kê vào 31/12/2022 của Công ty khách hàng. Kết quả quan sát cho thấy: Công ty đã thực hiện theo đúng hướng dẫn kiểm kê. Bình đã lựa chọn một số mục hàng tồn kho và kiểm tra lại theo Bảng tổng hợp hàng tồn kho. Kết quả cho thấy, những khoản mục hàng tồn kho được liệt kê đều đúng. Kiểm tra chi tiết về “Tính đúng kỳ” được Bình thực hiện và đưa ra xử lý đúng. Bình kết luận hàng tồn kho được trình bày trung thực, khách quan trên các khía cạnh trọng yếu.
  2. Bình lựa chọn khoảng 20 hóa đơn để kiểm tra xem hoạt động kiểm soát yêu cầu (thủ tục kiểm soát): nhân viên bán hàng kiểm tra, đối chiếu gía mặt hàng bản trên bảng giá được phê chuẩn và ghi vào hóa đơn bán. Sau khi kiểm tra, nhân viên bán phải tích vào ô “đã kiểm tra giá” trên hóa đơn). Bình phát hiện 3 trường hợp nhân viên bán hàng không tích vào ô “đã kiểm tra giá” trên hóa đơn. Giám đốc bán hàng giải thích nhân viên bản hàng thường kiểm tra giá nhưng đôi khi quên không tích vào ô đó. Giá trên các hóa đơn đều thống nhất với bảng giá đã được phê chuẩn. Bình kết luận rằng hoạt động kiểm soát về giá bán đang hoạt động hiệu lực.
  3. Phân tích chi phí quảng cáo cho thấy, chi phí này được đánh giá trọng yếu mặc dù chi chiếm 50% so với tổng chi phí quảng cáo của năm trước. Bình lựa chọn một số lượng lớn các nghiệp vụ quảng cáo ghi trên sổ chi tiết chi phí bán hàng và kiểm tra ngược lại với trình tự kế toán tới các chứng từ có liên quan (hợp đồng quảng cáo, hóa đơn giá trị gia tăng của nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo) và không phát hiện thấy bất cứ sai sót nào trong ghi nhận nghiệp vụ. Bình kết luận, chi phí quảng cáo được ghi nhận trên sổ là có cơ sở chắc chắn.
  4. Trong một phần công việc kiểm tra khoản phải trả người bán, Bình thực hiện tìm kiếm những khoản phải trả người bán chưa được ghi sổ. Kiểm toán viên này đã lựa chọn khoảng 20 khoản thanh toán được thực hiện sau ngày 31/12/2022 và phát hiện 3 trường hợp thanh toán có liên quan tới dịch vụ được cung cấp trong tháng 12/2022 nhưng chưa được phản ánh. Tuy nhiên, tổng số tiền của 3 hóa đơn thanh toán trên được xác định không trọng yếu. Vì vậy, Binh kết luận không cần thiết phải thực hiện bút toán điều chỉnh đối với những khoản phải trả người bán chưa được ghi sổ đã phát hiện trên.

Yêu cầu:

Với mỗi trường hợp nêu trên, anh/chị có cho rằng những bằng chứng được nêu ra là đầy đủ bằng chứng thuyết phục cho mỗi kết luận của Bình? Giải thích tại sao?

Trích nguồn uy tín: https://dichvukiemtoanbctc.com/de-thi-mon-kiem-toan-va-dich-vu-dam-bao-nam-2023-chung-chi-cpa-de-chan.html

Giải đề thi CPA năm 2023 Đề thi môn kiểm toán

Tình huống 1

Kết luận của Bình: “HTK được trình bày trung thực, khách quan.”

Đánh giá: Chưa đủ cơ sở.

Bằng chứng kiểm toán chưa đầy đủ và thuyết phục để đưa ra kết luận.

Giải thích vì sao:

Để kết luận hàng tồn kho là trung thực khách quan trên các khía cạnh trọng yếu thì kiểm toán viên cần thu thập đầy đủ các bằng chứng và thích hợp để chứng minh cho tất cả các sơ sở dẫn liệu.

Với những thử tục mà Bình thu thập thì vẫn chưa đủ hai bằng chứng quan trọng cho 2 cơ sỏ dẫn liệu quan trọng cho khoản mục này là: Tính đầy đủ; Đánh giá và phân bổ.

Tình huống 2) Thử nghiệm kiểm soát “kiểm tra giá bán”

Bằng chứng kiểm toán chưa đầy đủ và thuyết phục để đưa ra kết luận như vậy.

Giải thích tình huống:

Việc kiểm tra chọn mẫu 20 hóa đơn nhưng phát hiện 3 hóa đơn có vấn đề, tức là tỷ lệ 15% nhưng bạn Bình kết luận là thủ tục kiểm soát có hiệu lực là chưa phù hợp mà Bình cần mở rộng quy mô mẫu để tiếp tục kiểm tra.

Việc Bình kiểm tra nhân viên đối giữa bảng giá va hoa đơn để kết luận giá bán là hợp lý là chưa đầy đủ cần đối chiếu với hợp đồng mua bán, hóa đơn và các hồ sơ bán hàng khác có liên quan.

Tình huống 3

Bằng chứng kiểm toán chưa đầy đủ và thuyết phục để đưa ra kết luận như vậy.

Giải thích

Chi phí quảng cáo năm nay bằng 50% năm trước, là khoản mục trọng yếu > Kiểm toán viên nghie ngờ chi phí quảng cáo bị ghi nhận thiếu > Vi phạm cơ sở dân liệu là TÍNH ĐẦU ĐỦ.

Lúc này kiểm toán viên cần chọn mẫu chứng từ kiểm tra sang sổ tuy nhiên thủ tục kiểm toán mà Bình đang thực hiện là ngượi lại >>> Nên không thu được bằng chứng về tính đầy đủ.

Tình huống số 4

Bằng chứng kiểm toán mà Bình thu thập được là chưa đầy đủ và thuyết phục để đưa ra kết luận.

Giải thích cụ thể:

Chọn mẫu 20 mẫu nhưng phát hiện 3 khoản liên quan đến dịch vụ chưa đựa ghi nhận, điều này cho thấy việc ghi nhận thiếu khoản phải trả 15%; Bình cần mở rộng mẫu kiểm tra

Bình cần chú ý các khoản nợ phải trả nhà cung cấp liên quan đến dịch vụ.

Trình bày theo cấu trúc Đánh giá – Lý do – Thủ tục bổ sung sẽ rất dễ lấy trọn 2,0 điểm.

Kết luận

Bài giải đề chẵn CPA 2023 cho thấy: muốn đưa ra ý kiến kiểm toán tin cậy, kiểm toán viên phải thu thập bằng chứng đầy đủ & thích hợp cho tất cả cơ sở dẫn liệu (hiện hữu, đầy đủ, quyền & nghĩa vụ, định giá & phân bổ, chính xác, đúng kỳ, phân loại & trình bày).

Chỉ nhìn vào một vài thủ tục (quan sát kiểm kê, vouching hóa đơn…) không đủ để kết luận “trung thực, hợp lý” nếu chưa kiểm tra định giá, đúng kỳ, đầy đủ và kiểm soát nội bộ. Luôn duy trì hoài nghi nghề nghiệp, lượng hóa sai sót (projection), so với materiality/performance materiality, và mở rộng thử nghiệm khi thấy dấu hiệu bất thường. Trình bày đáp án theo khung Đánh giá → Lý do → Thủ tục bổ sung sẽ giúp bạn tối đa hóa điểm số.

Câu hỏi thường gặp

1) “Đầy đủ” và “thích hợp” của bằng chứng khác nhau thế nào?

Đầy đủ: số lượng bằng chứng (liên quan đến cỡ mẫu, rủi ro).

Thích hợp: chất lượng/bằng chứng đúng mục tiêu (liên quan đến tính liên quan & độ tin cậy).

2) Khi nào nên dựa vào thử nghiệm kiểm soát, khi nào chuyển sang thử nghiệm cơ bản?

Chỉ dựa vào kiểm soát khi kiểm soát thiết kế phù hợp & vận hành hữu hiệu (tỷ lệ sai lệch ≤ mức chấp nhận). Nếu có ngoại lệ đáng kể hoặc bằng chứng kiểm soát yếu → tăng thử nghiệm cơ bản.

3) Với khoản mục quảng cáo, vì sao vouching hóa đơn vẫn chưa đủ?

Vouching chứng minh hiện hữu & chính xác, nhưng không đảm bảo đầy đủ/đúng kỳ. Cần tìm chi phí chưa ghi, hợp đồng kéo dài, trích trước/trả trước.

4) Phát hiện 3/20 khoản phải trả chưa ghi sổ có cần điều chỉnh không?

Không chỉ nhìn số tuyệt đối; phải ước lượng sai sót suy rộng cho tổng thể, cộng sai sót đã biết, so với materiality. Nếu xu hướng ghi thiếu có hệ thống → đề nghị điều chỉnh hoặc tích lũy đánh giá cuối kỳ.

5) Những thủ tục cốt lõi cho hàng tồn kho trong đề thi?

Cut-off mua/bán; định giá (giá gốc & NRV), tuổi tồn; quyền sở hữu/ ký gửi gia công; tìm hàng lỗi/hư hỏng; so vòng quay; đối chiếu BOM/giá thành; xác nhận hàng gửi bán.

📞 Hotline: GỌI NGAY 098 225 4812 – Mr. Trần Thường Các

Tham khảo thêm: 

THÔNG TIN LIÊN HỆ THƯƠNG HIỆU DICHVUKIEMTOANBCTC.COM 15+ NĂM KINH NGHIỆM 

WEB: https://dichvukiemtoanbctc.com/

Facebook: https://www.facebook.com/Congtykiemtoandoclapuytin/

Pin: https://www.pinterest.com/dichvukiemtoanbctc/

Chia sẻ thông tin này!