Nghị định 132 về chuyển giá

Chính sách này không chỉ là để chống chuyển giá, mà còn thể hiện định hướng chung, quản lý thuế thực hiện tái cơ cấu, lành mạnh hoá thị trường đầu tư, hạn chế bớt những doanh nghiệp (DN) vốn mỏng, dựa nhiều vào vốn vay quá mức để mở rộng đầu tư, gây rủi ro cho hệ thống trong dài hạn.

Nghị định 132 về chuyển giá

Nghị định 132 về chuyển giá

Đây là ý kiến của ông Đặng Ngọc Minh, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) tại cuộc họp báo giới thiệu các nội dung mới của Nghị định 132/2020/NĐ-CP ngày 5/11/2020 quy định về Quản lý thuế đối với DN có giao dịch liên kết do Tổng cục Thuế tổ chức chiều 9/11 tại Hà Nội.

Lãnh đạo Tổng cục Thuế cho biết, tại Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị có nêu: “Nghiên cứu, xây dựng các quy định khắc phục tình trạng “vốn mỏng”, chuyển giá”; “Hoàn thiện, bổ sung các quy định chặt chẽ trong pháp luật về thuế… để kiểm soát, quản lý, ngăn chặn chuyển giá”.

Thống nhất của hệ thống văn bản pháp luật

Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống văn bản pháp luật, trong đó có Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 (Luật Quản lý thuế số 38), Luật Thuế Thu nhập DN số 14/2008/QH12 và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Thuế Thu nhập DN; tiếp cận với các nguyên tắc, thông lệ quốc tế trong việc quản lý thuế đối với giao dịch liên kết, trong đó có cam kết của Việt Nam khi tham gia diễn đàn Xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (BEPS) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và phù hợp điều kiện bối cảnh của Việt Nam.

Đến ngày 5/11, Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 132/2020/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với DN có giao dịch liên kêt (thay thế Nghị định số 20/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017).

Nghị định gồm 4 chương, 23 điều, kế thừa những nội dung đã được quy định tại Nghị định số 20/2017/NĐ-CP mà trong thực tế không có vướng mắc, chỉ sửa đổi và bổ sung những nội dung còn thiếu hoặc sửa đổi một số điều để đảm bảo rõ ràng, minh bạch.

Theo Phó Tổng cục Thuế Đặng Ngọc Minh, một trong những điểm mới là quy định về khống chế chi phí lãi vay lần đầu được áp dụng tại Việt Nam. Do đó, không tránh khỏi những khó khăn trong quá trình triển khai mà nguyên nhân chính là do DN Việt Nam có vốn mỏng, chủ yếu là vốn vay, vốn chủ sở hữu thấp.

Tổng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập DN không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ của người nộp thuế.

Quy định về khống chế lãi vay được trừ theo quy định mới đã cơ bản khắc phục những nhược điểm của quy định cũ, có quy định hồi tố năm 2017, 2018  đối với nội dung nâng ngưỡng khống chế chi phí lãi vay từ 20% lên 30% đồng thời cho bù trừ với lãi tiền gửi, tiền cho vay dự kiến số thuế phải hoàn hoặc khấu trừ khoảng 4.785 tỷ đồng.

Nghị định mới cũng mở rộng đối tượng loại trừ áp dụng quy định giới hạn chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.

Đó là, các khoản vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vay ưu đãi của Chính phủ thực hiện theo phương thức Chính phủ đi vay nước ngoài cho các DN vay lại; các khoản vay thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia (chương trình nông thôn mới và giảm nghèo bền vững); các khoản vay đầu tư chương trình, dự án thực hiện chính sách phúc lợi xã hội của Nhà nước (nhà ở tái định cư, nhà ở công nhân, sinh viên, nhà ở xã hội và dự án phúc lợi công cộng khác).

Trong quá trình xây dựng chính sách, ngay từ đầu các DN FDI rất tích cực tham gia góp ý một cách bài bản, thông qua các đại diện của họ như EuroCham (châu Âu), VJBA (Nhật Bản), KORCHAM (Hàn Quốc), Amcham (Hoa Kỳ).

Đây là quy định tuân thủ chương trình hành động BEPS, nên trong các Hội thảo giữa cơ quan thuế, Ngân hàng Thế giới (WB) các chuyên gia quốc tế đã tích cực đóng góp các ý kiến vào dự thảo dưới góc nhìn từ các DN nước ngoài.

Các DN FDI cho rằng, các quy định trong dự thảo Nghị định của Việt Nam không phải mới mà thực ra đã là thông lệ tốt mà các nước vẫn thường áp dụng để chống chuyển giá, các DN có nghĩa vụ phải tuân thủ.

Về phía mình, lãnh đạo Tổng cục Thuế khẳng định đã lắng nghe, nắm bắt các ý kiến đóng góp, nhằm tháo gỡ khó khăn DN trong nước.

Nhìn chung các DN Việt vẫn gặp khó khăn, có không ít DN, vốn chủ sở hữu ít, nhưng 1 tập đoàn có khi lập ra hàng trăm DN, dẫn đến tình trạng khá nhiều DN vốn mỏng.

Việt Nam vẫn là một nền kinh tế đang phát triển, các DN đặc biệt là tư nhân cần có thời gian tích tụ vốn, tuy nhiên, nguyên tắc của WTO quản lý là phải đối xử công bằng giữa các DN trong nước và nước ngoài.

Trong Nghị định 132 cũng đã có những điều quy định về những DN được loại trừ. Thực tế, trong số các đối tượng điều chỉnh, có tới 83% là các DN FDI, còn lại là các DN Việt có đủ để nằm trong phạm vi áp dụng điều chỉnh của Nghị định cần tuân thủ nghĩa vụ thuế nghiêm túc.

“Bên cạnh việc siết chặt quản lý thuế, chống chuyển giá, Chính phủ cũng đã chỉ đạo các đơn vị trong đó có Bộ Tài chính, ban hành các chính sách khách hỗ trợ các DN, đặc biệt là các DNVVN”, Phó Tổng Cục trưởng Đặng Ngọc Minh phân tích.

>>> Xem thêm: https://dichvukiemtoanbctc.com/dich-vu-giao-dich-lien-ket.html

Dịch vụ lập báo cáo chuyển giá của chúng tôi

Công ty dịch vụ kiểm toán độc lập của chúng tôi được thành lập bởi những kiểm toán viên trên 15 năm cung cấp dịch vụ kiểm toán – dịch vụ lập hồ sơ giao dịch liên kết …. Chúng tôi không ngừng ỗ lực để là người bạn đồng hành cùng doanh nghiệp.

Dịch vụ thế mạnh của chúng tôi:

Dịch vụ lập báo cáo chuyển giá – tư vấn lập hồ sơ trong giao dịch liên kết.

Dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính – tư vấn kiểm toán.

Dịch vụ kiểm toán quyết toán dự án.

Dịch vụ kiểm toán soát xét ….

>>> Xem thêm: Dịch vụ lập báo cáo chuyển giá 

Trường hợp được miễn dịch vụ lập hồ sơ giao dịch liên kết

Người nộp thuế được miễn kê khai xác định giá giao dịch liên kết trong trường hợp chỉ phát sinh giao dịch với các bên liên kết là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam, áp dụng cùng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp với người nộp thuế và không bên nào được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ tính thuế.

Người nộp thuế có trách nhiệm kê khai xác định giá giao dịch liên kết nhưng được miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết trong các trường hợp sau:

Người nộp thuế có phát sinh giao dịch liên kết nhưng tổng doanh thu phát sinh của kỳ tính thuế dưới 50 tỷ đồng và tổng giá trị tất cả các giao dịch liên kết phát sinh trong kỳ tính thuế dưới 30 tỷ đồng;

Người nộp thuế đã ký kết Thoả thuận trước về phương pháp xác định giá thực hiện nộp Báo cáo thường niên theo quy định pháp luật về Thoả thuận trước về phương pháp xác định giá. Các giao dịch liên kết không thuộc phạm vi áp dụng Thoả thuận trước về phương pháp xác định giá, người nộp thuế có trách nhiệm kê khai xác định giá giao dịch liên kết theo quy định tại Điều 10 Nghị định này;

Người nộp thuế thực hiện kinh doanh với chức năng đơn giản, không phát sinh doanh thu, chi phí từ hoạt động khai thác, sử dụng tài sản vô hình, có doanh thu dưới 200 tỷ đồng, áp dụng tỷ suất lợi nhuận thuần trước lãi vay và thuế thu nhập doanh nghiệp trên doanh thu.

Bao gồm các lĩnh vực như sau:

Phân phối: Từ 5% trở lên.

Sản xuất: Từ 10% trở lên.

Gia công: Từ 15% trở lên.

Trường hợp người nộp thuế không áp dụng theo mức tỷ suất lợi nhuận thuần quy định tại điểm này thì phải lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết theo quy định.

Dịch vụ kiểm toán chúc các bạn thành công.

DỊCH VỤ KẾ TOÁN – TƯ VẤN THUẾ – DỊCH VỤ KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 

Hotline: 098 225 4812

HÃY GỌI NGAY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP: 0867 004 821 ( 24/7 ) –  0971 373 146.

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG ĐỂ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP!

Chia sẻ thông tin này!