Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hoạt động liên tục trong doanh nghiệp: Tìm hiểu cùng kiểm toán viên
Các Kiểm toán viên cũng thường lưu ý về vấn đề này khi lập báo cáo kiểm toán. Vậy hoạt động liên tục là gì, đặc điểm, dấu hiệu nhận biết như thế nào. Việc lập và trình bày báo cáo tài chính theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam và Chuẩn mực kế toán quốc tế trong trường hợp doanh nghiệp không đáp ứng giả định hoạt động liên tục có gì khác biệt.

Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hoạt động liên tục trong doanh nghiệp: Tìm hiểu cùng kiểm toán viên
Nguyên tắc hoạt động liên tục là gì?
Theo Chuẩn mực kế toán số 01, nguyên tắc hoạt động liên tục (hay còn gọi là giả định hoạt động liên tục) được hiểu như sau:
Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình.
Trường hợp thực tế khác với giả định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập trên một cơ sở khác và phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính.
>>> Xem thêm: Chương trình kiểm toán năm đầu tiên.
Theo đó, nguyên tắc hoạt động liên tục có những đặc điểm như sau:
Ngược lại, mặc dù gặp khó khăn, tuy nhiên Ban Giám đốc Công ty xác định rằng có thể xác định các phương án kinh doanh thay thế cũng như huy động được các nguồn hỗ trợ tài chính (các khoản vay) đảm bảo duy trì hoạt động của công ty trong ít nhất 12 tháng tiếp theo, như vậy Báo cáo tài chính của công ty sẽ được lập theo nguyên tắc giả định hoạt động liên tục.
Sự kiện “có thể” dẫn đến nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục
Dưới đây là ví dụ về các sự kiện hoặc điều kiện, xét riêng lẻ hay kết hợp lại, có thể dẫn đến nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị.
Về tài chính
– Nợ phải trả ngắn hạn lớn hơn tài sản ngắn hạn. Khi đó doanh nghiệp có thể có khả năng không thanh toán được các khoản nợ phải trả;
– Đơn vị có các khoản nợ dài hạn sắp đến hạn trả mà không có khả năng được giãn nợ hoặc không có khả năng thanh toán, hoặc đơn vị phụ thuộc quá nhiều vào các khoản vay ngắn hạn để tài trợ các tài sản dài hạn;
– Các chủ nợ thu hồi hoặc không tiếp tục hỗ trợ tài chính cho đơn vị;
– Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh bị âm;
– Các chỉ số tài chính xấu hơn mức thông thường hoặc chỉ dẫn về những tiêu cực;
– Lỗ thuần lớn từ hoạt động sản xuất kinh doanh;
– Nợ tồn đọng hoặc ngừng thanh toán cổ tức;
– Không có khả năng tuân thủ các điều khoản của hợp đồng tín dụng;
– Không có khả năng tìm kiếm các nguồn tài trợ cho việc phát triển các sản phẩm mới thiết yếu hoặc các dự án đầu tư thiết yếu.
Về hoạt động
– Ban Giám đốc có ý định ngừng hoạt động hoặc giải thể đơn vị;
– Thiếu thành phần lãnh đạo chủ chốt mà không được thay thế;
– Mất một thị trường lớn, mất khách hàng quan trọng, mất quyền kinh doanh theo hình thức cấp phép, nhượng quyền thương mại hoặc mất nhà cung cấp quan trọng;
– Gặp các khó khăn về nhân sự;
– Nguyên vật liệu đầu vào bị thiếu hụt trầm trọng;
– Xuất hiện đối thủ cạnh tranh mới lớn hơn.
Các dấu hiệu khác
– Không tuân thủ các quy định về góp vốn cũng như các quy định khác của pháp luật;
– Đơn vị đang bị kiện và các vụ kiện này chưa được xử lý mà nếu đơn vị thua kiện có thể dẫn đến các khoản bồi thường không có khả năng đáp ứng được;
– Thay đổi về pháp luật và các quy định hoặc chính sách của Nhà nước làm ảnh hưởng bất lợi tới đơn vị;
– Xảy ra các rủi ro, tổn thất mà không được bảo hiểm hoặc bảo hiểm với giá trị thấp…
Ảnh hưởng của các sự kiện hoặc điều kiện này có thể được giảm nhẹ bởi các yếu tố khác. Ví dụ, ảnh hưởng của việc đơn vị không có khả năng thanh toán các khoản nợ phải trả thông thường khi đến hạn có thể được giảm nhẹ bằng việc Ban Giám đốc có kế hoạch duy trì luồng tiền đầy đủ nhờ việc áp dụng các phương pháp khác như thanh lý tài sản cố định, điều chỉnh lại lịch thanh toán nợ, hoặc tìm kiếm thêm các nguồn vốn mới. Tương tự, ảnh hưởng việc mất một nhà cung cấp quan trọng có thể được giảm nhẹ bằng việc thay thế một nguồn cung cấp phù hợp khác.
Sự khác biệt giữa lập BCTC theo VAS và IFRS khi doanh nghiệp không đáp ứng giả định hoạt động liên tục
Cả VAS và IFRS đều quy định rằng, trường hợp thực tế khác với giả định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập trên một cơ sở khác và phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính.
Việc áp dụng phương pháp lập báo cáo tài chính trong trường hợp không đáp ứng giả định hoạt động liên tục có thể cung cấp được các thông tin hữu ích cho chủ nợ và chủ sở hữu về khả năng thanh toán của doanh nghiệp cho từng đối tượng khi phải thực hiện các thủ tục giải thể, phá sản, tuy nhiên việc áp dụng nguyên tắc này tồn tại một số khác biệt với hướng dẫn của IFRS như sau:

infographic VAS vs IFRS
Như vậy nắm vững về nguyên tắc kế toán được áp dụng khi lập báo cáo tài chính sẽ giúp các Nhà đầu tư cũng như các đối tượng khác có cái nhìn tổng quát và toàn diện về tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt động của doanh nghiệp, từ đó đưa ra quyết định đúng đắn.
Ngoài ra cũng có thể nhìn nhận thấy, Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) vẫn còn nhiều điểm khác biệt với Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) khi lập báo cáo tài chính trong trường hợp doanh nghiệp không đáp ứng giả định hoạt động liên tục. Đây sẽ là một thách thức lớn đối với kế toán và kiểm toán khi Việt Nam chuyển mình áp dụng IFRS thay cho VAS.
>>> Tham khảo: Dịch vụ kiểm toán công ty nước ngoài chuẩn IFRS.
Kết luận
Nguyên tắc hoạt động liên tục là nền tảng quan trọng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Khi có những dấu hiệu nghi ngờ về khả năng duy trì hoạt động trong tương lai gần, việc đánh giá và công bố đầy đủ là trách nhiệm không chỉ của kế toán mà còn của ban lãnh đạo doanh nghiệp và kiểm toán viên.
Việc nhận diện sớm các yếu tố rủi ro như áp lực tài chính, mất thị trường, khó khăn vận hành, hay thay đổi pháp lý sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tìm giải pháp xử lý và đảm bảo tính trung thực, hợp lý trong báo cáo tài chính.
✅ Khuyến nghị
Đối với kế toán doanh nghiệp: Cần chủ động đánh giá và theo dõi các chỉ số tài chính quan trọng như dòng tiền, khả năng thanh toán, và tình hình nợ phải trả để nhận biết sớm các rủi ro ảnh hưởng đến hoạt động liên tục.
Đối với ban lãnh đạo: Cần xây dựng kế hoạch tài chính ứng phó trong tình huống xấu nhất và chuẩn bị các phương án thay thế như tái cấu trúc, huy động vốn hoặc thanh lý tài sản.
Đối với kiểm toán viên: Cần thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán và đánh giá khách quan các sự kiện sau ngày kết thúc niên độ nhằm đưa ra ý kiến kiểm toán phù hợp.
Đối với doanh nghiệp áp dụng IFRS: Cần hiểu rõ sự khác biệt với VAS về cách trình bày, phân loại tài sản – nợ phải trả và nguyên tắc ghi nhận, từ đó lựa chọn cơ sở lập báo cáo tài chính phù hợp.
Chú trọng đào tạo: Các doanh nghiệp nên tăng cường đào tạo nội bộ cho bộ phận tài chính – kế toán để hiểu rõ về giả định hoạt động liên tục cũng như các yêu cầu công bố thông tin theo chuẩn mực mới.
NHỮNG CÂU HỎI THƯỜNG GẶP
- Nguyên tắc hoạt động liên tục trong kế toán là gì?
Nguyên tắc hoạt động liên tục (going concern) là giả định rằng doanh nghiệp sẽ tiếp tục hoạt động trong tương lai gần và không có ý định hoặc buộc phải ngừng hoạt động hoặc thu hẹp đáng kể quy mô. Báo cáo tài chính được lập trên cơ sở này để đảm bảo phản ánh đúng bản chất và giá trị kinh tế của các khoản mục.
- Khi nào doanh nghiệp bị coi là không đáp ứng giả định hoạt động liên tục?
Khi doanh nghiệp có các dấu hiệu như: âm vốn chủ sở hữu, dòng tiền âm kéo dài, mất khả năng thanh toán, chủ nợ ngừng hỗ trợ, có kế hoạch giải thể hoặc không thể tiếp cận nguồn vốn tài trợ cho hoạt động… thì cần cân nhắc việc không còn đảm bảo giả định hoạt động liên tục.
- Kiểm toán viên đánh giá khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp như thế nào?
Kiểm toán viên thu thập bằng chứng kiểm toán về các sự kiện tài chính, hoạt động và pháp lý; phân tích dòng tiền, nợ đến hạn, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp; và nếu có nghi ngờ đáng kể, sẽ yêu cầu thuyết minh bổ sung hoặc đưa ra ý kiến kiểm toán phù hợp (nhấn mạnh vấn đề, ngoại trừ, từ chối…).
- Sự khác biệt giữa VAS và IFRS trong xử lý trường hợp không còn hoạt động liên tục là gì?
VAS quy định rõ trong thông tư 200/133 về tái phân loại tài sản, nợ phải trả và ghi nhận chi phí dự phòng. Trong khi đó, IFRS không quy định cứng nhắc mà cho phép doanh nghiệp lựa chọn cơ sở lập báo cáo tài chính phù hợp, nhưng phải thuyết minh rõ ràng và tuân thủ theo IAS/IFRS liên quan như IAS 1, IFRS 5.
- Doanh nghiệp cần làm gì nếu có dấu hiệu mất khả năng hoạt động liên tục?
Doanh nghiệp cần:
Rà soát lại khả năng thanh toán và kế hoạch tài chính ngắn hạn;
Cân nhắc giải pháp như tái cấu trúc nợ, bán tài sản, gọi vốn;
Chủ động công bố thông tin minh bạch trong báo cáo tài chính;
Làm việc sớm với kiểm toán viên để được tư vấn hướng xử lý đúng chuẩn mực kế toán.